Ngữ pháp tiếng Tày Nùng – Các loại từ: V.VI Phụ từ

CHƯƠNG V: CÁC LOẠI TỪ

V.VI PHỤ TỪ

Ngoài năm loại từ đã trình bày ở các phần trước, trong Tiếng Tày – Nùng còn những từ chuyên làm nhiệm vụ phụ cho các từ khác. Bản thân chúng không thể dùng độc lập được. Ta gọi loại từ này phụ từ.

Căn cứ vào ý nghĩa loại từ chúng phụ thuộc vào ta thể phân phụ từ thành mấy loại sau đây:

1. PHỤ TỪ ĐƠN VỊ

Loại phụ từ này thường biểu thị đơn vị, đồng thời cả chủng loại của sự vật nữa. Xét về khả năng kết hợp với các loại từ khác, chúng nhiều điểm giống danh từ, như thể đứng trước đại từ chỉ định NẨY (này), TỈ (kia), đặt sau số từ số lượng. Ta thể nói HẢ TUA NẨY (năm con này). Nhưng chúng lại nhiều đặc điểm ngữ pháp khác hẳn danh từ, cụ thể :

(a) Không sử dụng độc lập được ở trong câu, không khả năng làm từ trung tâm trong cụm từ chính phụ, trừ trường hợp hoàn cảnh nói năng cho phép. Người ta sẽ không thể hiểu được nếu bất thình lình nghe một câu như sau: TUA KIN NHẢ (con ăn cỏ), nhưng thể hiểu được đoạn câu trên trong hoàn cảnh thế này: SLOONG TUA VÀI, TUA KIN NHẢ, TUA NÒN ( hai con trâu, con ăn cỏ, con nằm)

(b) Khi danh từ chỉ loại (vật hữu sinh, vật vô sinh) cần được xác định về số lượng thì phải chúng xen vào giữa làm môi giới. Thí dụ:

Số lượng tính chất của các phụ từ đơn vị rất phong phú. tạo ra sự đối lập giữa những từ chỉ loại dùng cho người động vật, giữa động vật và thực vật, giữa vật vô sinh vật hữu sinh…

Phần lớn loại phụ từ chỉ vật vô sinh này khả năngtả những tính chất những hình dạng khác nhau của sự vật. Thí dụ:

MẠC chỉ những vật sắc nhọn, thường những đồ dùng bằng kim loại:

TÈO, LẰM thường chỉ những vật dài nhưng không nhọn.

SLẨN thường chỉ những vật nhỏ, dài mềm mại.

BÂƯ thường dùng với vật tiết diện rộng mỏng

PHÉN cũng chỉ vật tiết diện rộng nhưng bề mặt thể rộng dày hơn BÂƯ

ĂN, NGÉ thể dùng với nhiều vật hình thù khác nhau hơn.